Phong sự ảnh.

By Hà Văn Đạo

altaltaltaltaltalt

More...

Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với thơ cá

By Hà Văn Đạo

altalt    Nhà thơ Giang Nam:

                  Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với thơ ca.

                 Ở tuổi 82 nhưng nhà thơ Giang Nam – Tác giả của bài thơ nổi tiếng “Quê hương” vẫn tối ngày “luyện” trí minh mẫn cho mình bằng cách đánh vật với chữ nghĩa những hội thảo những trang hồi ký viết dở và…tập dưỡng sinh. Với ông cách rèn luyện này đã cho cuộc sống thường ngày thư thái hơn. Quen ông đã lâu nhưng biết ông bận vào một chiều cuối  tháng 4  tôi chỉ xin ông một cuộc thoại ngắn xung quanh bài thơ “Quê hương”. Thế nhưng ký ức một thời như sống dậy mãnh liệt cùng với niềm đam mê thơ như đã ăn sâu vào máu thịt khiến cho những lời “gan ruột” của ông cứ thế tuôn ra suốt 4 tiếng đồng hồ trong căn nhà riêng của ông ở số 46 Yesin (Nha Trang Khánh Hòa).

                  “Quê hương”- Bài thơ làm trong một giờ.

alt

Giang Nam với Chim Trắng Hoài Vũ Nguyễn Quang Sáng ở chiến trường Tây Ninh (1973)

                “Hồi đó tôi giác ngộ cách mạng rất sớm từ năm 20 tuổi lại được người anh trai – Nhà cách mạng Nguyễn Lưu truyền cho bầu nhiệt huyết nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- Nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – Người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ “Quê hương”. Thời khắc nghiệt của chiến tranh tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi nên chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn gửi cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ cuối cùng cũng nhận được hồi âm…Từ đó họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955). Cưới xong ở với nhau được đúng 2 đêm ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng” “diệt cộng” cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ ngay sau khi vợ sinh tôi được tổ chức rút về lại Khánh Hoà. Sau đó không lâu vào một buổi tối giữa năm 1960 giữa lúc trời mưa tầm tã tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Sài Gòn). Đau đớn đến bàng hoàng sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ tình yêu nghẹn ngào những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa nhức nhối tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ tôi đã viết xong bài thơ “Quê hương”. Viết liền mạch không tẩy xóa không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ “Quê hương”.

 

               Tạo cảm hứng cho một đời.

                  alt

               Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua rất lâu.  Nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh  từ phía sau cặp kính cận khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài “Quê hương” tôi đưa cho cấp trên đọc ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày  tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9/1961 đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ “Quê hương” của mình và thông báo được giải nhì báo Văn Nghệ. Trong giây phút vui mừng đó tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài “Quê hương” đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng làm báo tuyên truyền cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả”. – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Hà Nôin nhận giải Giang Nam đau đáu trong mình một suy nghĩ; Phải chăng những tình cảm tha thiết chân thành xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải nhà thơ Chế Lan Viên  đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao  đều nói về sự hy sinh của người con gái của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng bài “Quê hương” của Giang Nam đau quá!. Tuy bài thơ được giải nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ “Quên hương” được công bố rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó tôi vô cùng sung sướng thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê viết không ngưng nghỉ”- Giang Nam cho biết.

             Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962 bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu năm 1968 vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả về nhờ sự bào chữa của một luật sư. Nhắc đến thời kỳ này giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù ra tội những ngày dài sống đằng đẵng trong sà lim đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi vợ tôi đã chùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. “tận khổ cam lai” may thay giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh.  Lần ra tù thứ hai cũng nhờ nhiều vào một người luật sự họ bào chữa một cách vô tư. Sau này giải phóng tôi có đi tìm lại người đó để cảm ơn nhưng không gặp được”. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1976 theo điều động của tổ chức Giang Nam làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978 chấp hành ý kiến của cấp trên ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN 1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên Khánh Hoà) Tỉnh uỷ Khánh Hoà xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh- Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đáu đáu với quê hương với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình được phục vụ nhân dân lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ “Quê hương” nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.
Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết”. Vì cái đam mê viết nên hiện nay dù tuổi đã cao ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

                                                                HÀ VĂN ĐẠO.

 

         alt    Nhà thơ Giang Nam tên thật Nguyễn Sung sinh năm 1929 tại Ninh Hòa (Khánh Hòa). Các tác phẩm tiêu biểu như: Tháng Tám ngày mai (1962)  Quê hương (1965) Người anh hùng Đồng Tháp (1969) Vầng sáng phía chân trời (thơ NXB Văn học Giải phóng thành phố Hồ Chí Minh 1975) Hạnh phúc từ nay (thơ NXB Tác phẩm mới Hà Nội 1978) Thành phố chưa dừng chân (thơ NXB Tác phẩm mới Hà Nội 1985) Rút từ sổ tay chiến tranh (truyện ngắn và ký NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh 1987) trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết…Trải qua mấy chục năm hoạt động cách mạng và thơ ca ông được trao một số giải thưởng cao quý như; Giải ba về truyện ngắn của báo Thống Nhất năm 1960 Giải nhì về thơ tạp chí Văn Nghệ năm 1961 Giải thưởng Nhà nước về văn học nghề thuật…và nhiều giải thưởng huân huy chương cao quý khác.

 

 

 

More...

Đêm mưa Đà Lạt và em

By Hà Văn Đạo

Thơ. Hà Văn Đạo.

 

Đêm mưa Đà Lạt và em.

 Cơn mưa đêm ôm dốc dài hun hút

Những con dốc không mang sự nứng nẩy của xuân thì

Không mang sự hừng hực miết tì đêm tình khát

Mang vẻ lãng đãng của sương trầm mặc của đá

Huyễn hoặc ngày dài và mộng mỵ lạc nhau.

 

 

Đà Lạt đêm

Mưa liếm kín mặt đường

Liễu buồn rũ mặt.

Ngôn ngữ người lặng câm.

 

 

Không hình dung được

Từ nỗi nhớ em hay đêm dài rét giá

Anh

Co ro nỗi nhớ và tràn bật những câu thơ

Vàng ảo đèn đường

Nhạy cảm môi hôn

Ly cà phê nhỏ giọt đếm thời gian.

 

Phía mặt hồ

Ngồn ngộn tơ răng

Trực òa vỡ như em ra đi rất vội

Anh giữ riêng mình những đêm đặc lẻ đơn.

 

Sương mù tan người đàn bà cuối dốc

Ôm nỗi buồn chống chếnh phía bình mình.

                                           Đà Lạt 30/03/2011.

 

More...

Thơ- Đã

By Hà Văn Đạo

Thơ.Hà Văn Đạo.

 

Đã.

 

Đã

Mang tất cả ký ức ngày cũ giấu vào đáy sâu nhất của mênh mông kỷ niệm

Con mắt vẫn ròng ròng thức trong đêm và gục xuống ly rượu cay

Đôi môi

Bàn tay

Hình dáng em

Hiện về tách nhỏ thành ngàn chiếc kim châm

Con tim anh đa cảm căng mình

Hứng những đường chườm rưng rức.

 

Đã

Xé toạc những lá thư những tấm hình

Ký ức về em chẳng thể nào phân hủy

Dù một giây trong những đêm không ngủ

Anh

Vùi mình vào cô đơn

Giả tạo cười sặc sụa

Tiếng cười hoang hoải mệt nhoài

Loang trên mái tóc

Màu đen kết tủa những vệt trắng.

 

Đã.

Không thắng được ngăn cách định mệnh đời nhau

Em theo chồng.

Anh

Vịn vào mộng ru mòn chân theo đường cũ

Lòng bật khóc

Mỗi đêm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

More...

THƠ- CÓ THỂ

By Hà Văn Đạo

alt

HÀ VĂN ĐẠO


Có thể
                                                                                 


Có thể

Khi hoàn toàn mình đã thuộc về nhau

Những khoảng trống vẫn chia đều hai phía

Ngọt ngào tình yêu nhạt dần như bã mía

Bão giông về theo giây phút lìa xa.


Có thể

Những đêm trắng một mình anh một cô đơn chờ đợi

Em theo chồng giật thót những cơn mơ

Anh hững hờ bước qua tình yêu người khác

Đón những nụ hôn mà lòng nghe mặn chát

Bởi hương môi em còn ngây ngất tận bây giờ.

 

alt
Có thể

Anh tránh đọc lại những trang thư em viết

Tránh đón nhận những tỏ tình tha thiết

Khi trái tim vẫn nhói đau ngột ngạt

Em bất trắc bên người- anh phải đứng nơi xa.


Có thể

Bao đêm trắng làm câu thơ tình cuối

Cầm mang đi chẳng thế chấp được gì.

 Đà Lạt :27/08/2009.

(Nguồn: Văn nghệ công an 15/03/2011)     

 

More...

TỪ VẾT SẦN SÙI TRÊN TAY CHÂN CỦA MẸ

By Hà Văn Đạo

Thứ Năm 17/03/2011  16:25 (GMT+7)

Thành đạt từ vết sần sùi trên tay chân của mẹ

TT - Mỗi lần về quê
Hành trang mang theo là ký ức bàn tay mẹ
Bàn tay chai như người thợ đập đá
Bàn tay rộng hoác sần sùi như cánh đồng mùa đông

Đó là những vần thơ đầu tiên con viết tặng mẹ. Mười mấy năm bươn chải xa quê lập nghiệp con có may mắn được đi nhiều quen biết nhiều nhiều người bạn của con họ tự hào khi bước ra đời được gia đình trang bị cho một hành trang xán lạn về vật chất. Nhưng đeo bám con suốt từ những ngày tuổi thơ cho đến khi thành đạt lại là đôi tay chân sần sùi của mẹ. Đó cũng là thứ tài sản vô giá là bài học đáng nhớ nhất đối với con nó tiếp cho con nhiều nghị lực vượt lên. 

Lên 8 tuổi nhà nghèo xơ xác bố đi chiến trường B mấy anh em trốn mẹ nghỉ học đi tát cá bắt cua khi cầm giỏ cá đầy ứ về cho mẹ bán để lấy thêm tiền mua quần áo mới cứ tưởng mẹ phải vui lắm nhưng cầm giỏ cá lên mẹ đã giận dữ hắt cả ra sân. Lúc đó mấy anh em con chỉ biết ấm ức.

Sáng mai mới 5 giờ mẹ đã thức dậy rang lại cơm rồi rưng rưng nước mắt dúi cặp sách vào tay từng đứa. Mẹ nói “con chữ của các con học được nhiều là giúp mẹ rồi là hạnh phúc của mẹ rồi chứ không phải giỏ cá đầy”. Nghe biết vậy chứ lúc đó chỉ thích đi tát cá. Cũng từ đó thình thoảng thức giấc lúc nửa đêm con thấy mẹ ngồi ở góc khuất sau chái nhà cặm cụi chẻ những khúc cây khô lấy từ bìa rừng bó thành từng bó nhỏ.

Ở quê chẳng có gì hay để chơi học buổi chiều nên buổi sáng con hay cùng đám bạn trốn vào bụi cây ven đường để trêu những bà mẹ những chị gánh hàng ra chợ bán. Có lần đang trong bụi con thò đầu ra quăng con rắn nhựa vào người thím Tâm thím tưởng rắn thật sợ quá làm tung tóe cả gánh rau.

Con lao ra nhe hàm răng sún cười rú lên thím Tâm vác đòn gánh lùa một chặp rồi lật đật quay lại nhặt từng mớ rau lau vào chiếc áo nhàu nhĩ màu cháo lòng cho sạch đất vừa lau thím vừa lẩm bẩm “rau bẩn thế này làm sao bán chắc hôm nay ế mất rồi”. Hôm đó mẹ biết chuyện chỉ nhẹ nhàng nói con rằng thím Tâm cũng như mẹ bàn tay phải xước rách mới có được gánh rau để nuôi các con thím ăn học. Bữa đó bỗng dưng mắt con xè cay.

Tết năm đó mấy anh em con ai cũng có áo mới để mặc. Thế nhưng trong mâm cơm chiều 30 tết con thấy mẹ có vẻ gượng gạo trong khi dọn mâm. Đêm vô tình cầm tay mẹ thấy đầy vết sần sùi nhiều chỗ trong lòng bàn tay nứt toác và cứ chực tứa máu.

Con nhìn thấy mà trào nước mắt con nói sẽ chẻ củi cùng mẹ để bán kiếm tiền để tay mẹ bớt sần sùi để có thêm tiền mua cho mẹ chiếc áo mới. Nhưng mắt mẹ lại rơm rớm nước nói rằng: “Mẹ mặc chiếc áo nâu cũ này quen rồi không thích áo mới những điểm mười tròn trịa của các con là phần thưởng lớn nhất món quà quý giá nhất cho mẹ rồi”. Suốt đêm đó thương mẹ con thức trắng cứ nghĩ hoài về đôi tay sần sùi của mẹ cũng từ đó con chăm học hơn bỏ hẳn ý định trốn học.

Cuộc sống tưởng chừng cứ thế trôi qua nhưng năm hơn 10 tuổi anh trai gặp nạn gần như đêm nào mẹ cũng thức trắng có những hôm nước mắt mẹ lăn xuống mặt con nóng hổi. Lúc này cánh rừng bên làng người ta không cho lấy củi nữa nên mẹ phải theo mấy thím hàng xóm đi lên những quả đồi xa hơn chặt cây giang cây nứa rừng về cắt từng khúc ngắn rồi đập dập ra mang đi bán cho người ta làm phên nhà phên dậu.

Thức đêm nhiều cộng với nỗi lo âu cho anh trai con thấy tóc mẹ nhanh bạc hơn đôi tay làm việc nhiều nên những lúc trở trời cứ run lên bần bật. Những lúc đó chỉ muốn ôm lấy tay mẹ mà khóc. Con tự nhủ với lòng sẽ học tốt để không phụ mẹ không phụ đôi tay quần quật để kiếm từng đồng tiền lẻ cho con ăn học.

Rồi con cũng vào đại học ít được gần mẹ hơn nhiều lúc nỗi nhớ bồn lên đến cồn cào mỗi chuyến xe tết vội vã về lại vội vã đi ngay. Các món tiền học càng ngày càng tăng nhưng lúc nào trong thư mẹ cũng nói rằng ở nhà được mùa lúa mẹ không phải đi làm thêm gì như trước nữa thương mẹ hãy học cho giỏi.

Năm cuối đại học đang hớn hở để chuẩn bị ra trường bỗng nhận điện của anh trai “mẹ nằm viện không đi lại được nữa”. Trong con như có những đợt sóng cứ cồn lên dữ dội hôm sau vớ vội mấy bộ quần áo con vội vã ra bắt chuyến xe cuối ngày về quê. Ông bác sĩ buông lời lạnh lùng rằng: “Do vận động quá nhiều thiếu phương tiện bảo hộ gan bàn chân nhiễm trùng các cơ chân bị dảo thấp khớp nặng khó có khả năng hồi phục”. Ông bác sĩ vừa bước ra chú Tùng chuyên đi cai thầu ở xã bước vào đưa cho mẹ một mảnh giấy ghi chi chít ngày làm ít ngày đi muộn…

Con thấy lạ chú nói “nhiều công trình gấp quá phải làm cả ban đêm năm nay lúa lại mất mùa nên mẹ mày gánh đất thuê cho tao 8 tháng tổng cộng 240 buổi trừ 20 buổi đi chậm tổng cộng được 5 triệu đồng. Lẽ ra tao trừ bớt vì mẹ mày chân đau gánh chậm”. Nghe chú Tùng nói xong con thấy như có gì đó nghẹn đắng nơi cổ họng. Mẹ vẫn nhìn con dịu dàng nhưng con chỉ muốn thét lên vì sao mẹ dối con.

Đêm đó nằm bên mẹ giấc ngủ nông rối bời mộng mị mẹ tưởng con ngủ say nên mẹ dậy đếm lại những đồng tiền chú Tùng vừa đưa. Vừa đếm mẹ vừa nhẩm từng này mua gạo từng này cho con học phí từng này từng này… Sáng mai dìu mẹ đi về trên con đường heo hút gió dù băng bó một lớp băng dày nhưng vẫn phải đi nhón gót lòng con quặn đau như có kim châm.

Quay lại trường day dứt trước đôi chân cà nhắc của mẹ con lao vào học như điên. Ra trường được nhận vào một cơ quan văn hóa cấp tỉnh trực tiếp về quê báo tin mẹ chống gậy ra đón con bằng một nỗi vui mừng lắp bắp. Nhưng trớ trêu thay vì cái tính “thẳng như ruột ngựa” dám nói ra tội “ăn bẩn” của cán bộ cấp trên nên làm được hai tháng con bị đuổi việc. Hết tiền mặc bộ đồ cũ đi gánh gạch. Người bán vé số ngày hôm qua thấy con quần áo thư sinh sạch đẹp họ năn nỉ mua hôm nay thì họ lướt qua.

Ông chủ kêu con đi hầu rượu rồi cho thêm mười ngàn con không thèm. Ông ta chửi “kiết xác mà làm kiêu đồ con nhà gốc dạ”. Lần đầu tiên đi gánh gạch ngày mai chân không nhấc nổi con thấy thương mẹ đến xót lòng. Vậy mà mẹ đã làm việc này suốt 8 tháng. Nhiều lúc chán nản muốn bỏ hết tất cả nhưng đôi tay đôi chân của mẹ cứ đeo đẳng nên con đã gạt qua mọi cám dỗ lao vào vừa làm vừa học tiếp.

Cuối cùng cũng có một công việc tử tế. Ở phố rồi nhưng không hiểu sao những lúc đêm khuya khi con phố bình yên gác trọ say sưa với những giấc ngủ nồng  con lại giật mình mộng mị khi nghe tiếng xạc xào của mấy cô lao công tiếng kẽo kẹt quang gánh của mấy chị đồng nát. Chính tiếng kẽo kẹt ập ùa vào giấc mơ như sự luyến nuối bồn chồn thao thức. Sự sần sùi của đôi tay chân mẹ lại trần về như một nỗi nhớ không nguôi một bài học vô giá. 

           Nguồn: HÀ VĂN ĐẠO/tuoitre - ngày 17/03 mục Giáo dục.

More...

Giải thoát những nặng nề bằng thơ

By Hà Văn Đạo

 

         Giải thoát những nặng nề bằng thơ.

            (Hà Văn Đạo đọc tập thơ "Thoát nắng" của NTO)


NTO- Người hiền của của thơ ca phố núi
Sống ở Đà Lạt (Lâm Đồng) nhiều năm cho đến lúc ra đi nhiều người vẫn nói với tôi rằng ở xứ sở sương mù đó kể từ sau năm 2000 ba nhà thơ có thể thường xuyên ngồi chung "chiếu rượu thi ca" tươm tất với nhau là Phạm Quốc Ca Đào Hữu Thức Nguyễn Tấn On. Mỗi người một phong cách thơ mỗi người một thế mạnh trong tư duy sáng tạo nhưng họ chung chạm nhau ở một điểm là tình yêu nghệ thuật chân thật. Riêng với Nguyễn Tấn On thơ như  là mảnh đất trù phú để anh bộc lộ miền mơ tưởng mơ tưởng cái đẹp mong manh thậm chí có lúc anh luôn cố làm cho nó yếu đuối non lành hơn suy tưởng của mình. Nhiều người hiểu anh chơi với anh lâu năm đặt cho anh biệt danh "Người giải tỏa những nặng nề bằng thơ".

Preview   "Thoát nắng"- Đứa con Thơ thứ 6 của NTO.

              Sinh năm 1957 tại Quảng Ngãi nhưng hơn 20 năm nay Nguyễn Tấn On định cư ở Đà Lạt. Từng đạt giải nhất thơ lục bát năm 2000 (NXB Trẻ và tuyển Áo Trắng tổ chức) Giả thưởng thơ tạp chí Sông Hương năm 2003 Giải nhì thơ tạp chí du lịch Tp.HCM năm 2010...Nhưng quen anh nhiều năm tôi biết anh làm thơ không chỉ để hau háu dự thi và hau háu mong đạt giải thưởng mà với anh thơ đơn giản là sự giải bầy sự giải bầy của một tâm hồn yêu nghệ thuật đến mê sảng. Và tập thơ song ngữ Thoát nắng (NXB Thời đại năm 2010) là tập thơ thứ 6 của anh (sau các tập Thơ tặng người Phượng xưa Hồn quê Chuông gió Vũng nhớ). Tập thơ gói gọn 38 bài thơ tứ tuyệt dạng lục bát nhưng toát lên cả một quan niệm sống cũng như khát vọng được sẻ chia.


"Lối về"- Photo Hà Văn Đạo. 

Cuộc sống vốn đã nhiều nặng nề bon chen nên anh muốn mỗi câu thơ mình viết ra mang đến cho người đọc một chút nhẹ nhàng một chút suy tư. "Đông về lạnh lạnh mùa hoa/ Tạt ngang phố nhỏ cổng nhà ai xưa/ Gió nâng cánh cửa lòng thưa/ Đậu trong khóe mắt hạt mưa gầy gầy (Đông về). Nói về mùa đông về những luyến tiếc khi bước qua "nhà ai xưa" nhưng không trì nặng thê thiết mà nhẹ nhàng khơi gợi...Ngay cả những lúc đêm khuya cô đơn đến tận cùng anh cũng cố giải tỏa sự nặng nề cho mình bằng cách tưới tắm nỗi buồn vào những câu thơ như: "Ta về qua ngõ đầy trăng/ Tím bông vườn khế nhớ chăng môi người/ Tháng giêng vỡ một tiếng cười/ Nguyệt cầm rụng rớt ướt mười ngón run"(Mùa riêng). Quyết tâm truyền gửi sự trì nặng vào những câu thơ nhưng có lúc trong anh cũng cũng phực lên một nỗi khát khao mãnh liệt. "Cho tôi giữ sợi tóc rơi/ Cột vào nỗi nhớ cho lời đừng run/ Mây qua phố nhỏ bỗng đùn/ Hoàng hôn chầm chậm nắng dừng vai thơm" (Sợi tóc). Vốn bản tính hiền lành anh sống giản dị chân thật và ngay cả nỗi buồn cũng thật đến tận cùng. Ít ai như anh ở tuổi 53 rồi mà vẫn y như thuở đôi mươi: Bay bổng rưng rưng ngay khi nghe chuyện đời ngang trái hoặc lúc bị bạn nói nặng mà chạnh lòng. Có lần anh tâm sự với tôi rằng: "Trên đời này thứ có thật và mong manh nhất là hạnh phúc. Hạnh phúc ở đây bao gồm cả tình bạn tình anh em tình đồng nghiệp". Và cái khác biệt nhất tôi nhận ra ở anh là nỗi buồn. Dường như nó là một căn bệnh mãn tính mà những lúc phát bệnh là lúc anh níu vào thơ. "Tiếng chim hót lạnh vườn xưa/ Anh không về nữa cơn mưa ướt lòng/ Mẹ ngồi hắt bóng đèn chong/ Rơi từng giọt nấc xé trong vỡ ngoài" (Giọt nấc). Nỗi đau tột cùng của người mẹ khi mất con được chuyển thể vào những câu thơ ngắn ngủi nhưng nêm chặt hình ảnh đã chạm được đến niềm rung cảm của người đọc. Nghệ thuật ngắt câu và chuyển vần cũng rất "sỏi" chứng tỏa người viết đã có những suy tư rất sâu lắng. Bởi hay suy tư lại nhạy cảm nên nhiều khi anh đi "uống nỗi cô đơn"... một mình. "Trong quán xế người cụng ly lố nhố/ Thơ tao thơ mày mua bán thiệt hơn/ Hoàng hôn xước trên mặt bàn loang lỗ/ Ta ngồi uống từng ngụm đầy cô đơn"(Quán). Ai cũng có một nơi cất tiếng khóc trào đời- đó là quê hương nhưng không phải ai cũng "thấm" hiểu một điều rằng chính quê hương là nơi khơi gợi cảm xúc bình dị nhất nỗi niềm nhất. Nên Nguyễn Tấn On viết: "Ta rời quê đi tìm men cảm xúc/ Vay rơm vàng những buổi khói à ơi/ Ta cứ tưởng sóng ngoài khơi rất lớn/ Có ngờ đâu sóng dữ dội gần bờ". (Sóng).

Thơ hay đôi khi phải có đàn bà
Thơ hay phải chăng còn là sức gợi là sự luyến láy của hình ảnh để người đọc tiếp nhận một cách nhẹ nhàng nhưng ám ảnh và nhớ lâu giống như ngón tay mồ côi của ông già mù. "Ngày qua xó chợ chỗ nằm/ Nón cời hứng cả ánh rằm phố thu/ Dòng trăng dòng sữa lão mù/ Cho cháu bú ngón lời ru ngọt ngào" (Ngón tay mồ côi). Hay nỗi buồn bã tiếc nuối đến quặn lòng trước sự trôi chảy của thời gian được Nguyễn Tấn On diễn tả bằng hình ảnh "núi cắt vầng trăng lạnh". "Chiều rủ bóng chim về va vắng/ Xóa dấu ngày chạng vạng rưng rưng/ Núi ngồi nhập nửa vầng trăng lạnh/ Gió lặng im mà rung cả đời rừng"(Đời rừng). Như chính anh tâm sự tập thơ "Thoát nắng" còn là một chuỗi mong muốn giải thoát khỏi những nặng nề đặc biệt khi mùa đông tràn về và nỗi ước vọng chờ xuân sang. "Vườn đông ngậm hạt sương gầy/ Tiếng chim lột lá dán đầy nhân gian/ Mùa xuân mặc áo đạo tràng/ Dốc chênh chênh thoát nắng tràn hư không" (Thoát nắng). 

                                                                Nha Trang thu 2010.

More...

Một ngày dài 600 Km

By Hà Văn Đạo



5 giờ sáng chụp hình ở làng chài dưới gầm cầu Trần Phú ( Nha Trang) và lên đường.


Bào chủ Phương(đướng giữa) thuyết về sản phẩm với PV. LĐ&XH - Văn Đạo và trao đổi nghề nghiệp với nghệ nhân KLỹ Htull.

Vượt 210 Km đến Đắk Lắk 10 giờ sáng làm việc tại làng mây tre đan độc Đáo nhất Tây Nguyên (HTX Ea Kao mang nghề vào trại giam). 11 giờ lại đi.


1h chiều làm việc tại mỏ đá lớn nhất Đắk Nông.

2 giờ chiều gặp người viết sử thi lâu năm nhất Tây Nguyên.


7 giờ tối xem cồng chiêng ở Gia Lai và đi.

9 giờ 30 phút tối có mặt ở bãi vàng lớn nhất Kon Tum và đi... ngủ.

More...

Thơ Viết và Bình.

By Hà Văn Đạo



Thơ-HVĐ

Cho một chiều dài...lặng im.

Như cách chúng ta đã thôi nhìn nhau trong những mùa dài sau bao vui buồn.
Sự im lặng tràn đầy vị kỉ
Như cách chúng ta dùng thời gian cho những gì vô nghĩa lí
Để mà lãng quên nhau...

Như cách chúng ta đã đẩy vòng tay ra xa cách nhau
Những cái cười nhạt nhẽo
Thì có gì là trầm trọng đâu con tim không khô héo
Chỉ đôi lần nhận thấy ta đã ít cười hơn...và rơi vào câm lặng.
Cái im lặng sau bao thị phi của những kẻ hẹp lòng.

Như cách chúng ta thường lắng nghe những lời kể lể mệt mỏi buồn chán ngán ngẩm của nhau
Hay những lời gươm giáo lươn lẹo của kẻ khác
Và đôi lúc không hiểu người sống với người thế nào
Và trả lời bằng cái cau mày rất khẽ
Như cách tát vào mặt nhau bằng những lời biết là đau tê tái
Ta học cách ngồi yên trong câm lặng.

Như cách tôi chậm chạp chui vào trong chăn
Vô vọng đợi những giấc mơ dài em bắt đầu mang đi mảnh đất khác cho một người đàn ông khác
Rồi ngồi xoa tay mình và ngậm ngùi  an ủi
Ở nơi nào đó xa xăm có thể em bắt đầu cuộc tình mới
Như cách tôi tự hiểu tôi đã không còn chống đỡ miệng lưỡi đời người
Không một điều gì còn có thể cứu vãn
Tôi trân mắt nhìn những con người đi qua mình thanh thản
Dù sâu trong đáy mắt này giông bão sẽ nổi lên

Như cách chúng ta kiếm tìm những khoảnh khắc bình yên những cảm giác mới
Trốn vào những chốn ồn ào và quên đi có ai kia lặng lẽ
Như cách ta nhìn mình rất khẽ
Thấm từng giọt nước rơi

Như cách chúng ta đã quên không còn muốn đợi một người
Những buổi chiều dài
Ngân ngấn vầng trăng non cuối dốc
Để nhận thấy thằng đàn ông vẫn có quyền được khóc
Cho những xót xa...rồi câm lặng

có những buổi chiều có thể tất cả không còn như sự lưu luyến ban đầu khi gã trai khước từ mọi quyến rũ và ám ảnh tìm một lối riêng trong hành trình của gã. Cả cái tình yêu gã có thể thấu hiểu mọi sự đánh đổi từ người  này sang người  khác thiên hạ đang đua nhau để tân trang cho mình. Điều này vẫn nằm trong khả năng của gã. Thế nhưng gã phải ngồi im lặng gặm nhấm chính cái duy lý gã theo đuổi khi cái cách yêu chân thành và những lời nói vui nhộn trở thành cái món ăn cho những kẻ vô công khuếch lên và phát tán. Và có thể nhưng lời nói vui nhộn của gã đang được những cía miệng phình phịch như những cái hố ở thị trấn rừng những năm 30 gã mệt mỏi im lặng và mặc định người con gái kia đang chuyển dần sang một cách nhìn khác.  
"Như cách chúng ta đã thôi nhìn nhau trong những mùa dài sau bao vui buồn.
Sự im lặng tràn đầy vị kỉ
Như cách chúng ta dùng thời gian cho những gì vô nghĩa lí
Để mà lãng quên nhau...

    Bao cuộc tình cứ đi qua mặt gã bao nhiêu khuôn mặt người lờm lợm đi qua mặt gã bao nhiêu nụ cười cũng cứ đi qua mặt gã như một cuộc rong chơi. Cuộc rong chơi của những kẻ lẽo mép và hơt hời. Gã dừng lại bên một quán cóc quen thuộc nơi có một thời gã từng ngồi gắm nhấm nhưng nỗi buồn mà gã tự tạo nên. Đôi lúc gã tự ru ngủ lòng mình nhưng chẳng kìm nỗi lời tự thốt: Đời ròi kẻ nào cung phải chết  niềm vui đó có theo suốt cho một lựa chọn lâu dài...và chỉ mình gã bị điên- cái điên bất diệt. Những chuyến công tác dài  đơn độc và câm lặng  cho gã biết tất cả vẫn có thể đổi thay cả tình yêu và cuộc đời vẫn thế. Có ngàn lần gã rằn lòng tự hỏi. Có lẽ trên đời này tìm cách làm cho người đàn bà nào đó vui trong chốc lát trong một quãng thời gian rồi thay bằng một người đàn bà khác như thiên hạ vẫn làm người tâ lại hạnh phúc còn cái cách của gã chọn chỉ duy nhất một hạnh phúc đau khổ và ngọt ngào có khi nào là điên. Gã nhấp nốt 2 ly rượu cuôic cùng. Cũng có thể gã điên thật. Điên để mà gào lên rồi tự mà an ủi lấy:

Như cách chúng ta thường lắng nghe những lời kể lể mệt mỏi buồn chán ngán ngẩm của nhau
Và trả lời bằng cái cau mày rất khẽ
Như cách tát vào mặt nhau bằng những lời biết là đau tê tái
Ta vẫn cứ ngồi yên trong câm lặng.

Như cách tôi chậm chạp chui vào trong chăn
Vô vọng đợi những giấc mơ dài em bắt đầu mang đi mảnh đất khác cho một người đàn ông khác
Rồi ngồi xoa tay mình và ngậm ngùi  an ủi

    Hỏi để làm gì khi người ta đã muốn lìa bỏ theo những lời thị phi. NHững khoảnh khắc thuở ban đầu với người đàn bà gã yêu cứ tuồn về. Tuồn về bao nhiêu gã càng khó lý giải bấy nhiêu. Gã lý giải và hiểu nhanh thôi rồi người kia sẽ nhanh có một người yêu mới gã cười khà và quyết định thội không giải thích èo uột để làm gì. Rồi cuối cùng gã cùng đành tự bất lực trước mọi lý giải trước mọi cảm giác mới người ta sẵn sàng kiếm tìm như một cái mốt và gã cho mình tự bật khóc và gã thấy gã cũng có quyền được khóc:

Như cách chúng ta kiếm tìm những khoảnh khắc bình yên những cảm giác mới
Trốn vào những chốn ồn ào và quên đi có ai kia lặng lẽ
Như cách ta nhìn mình rất khẽ
Thấm từng giọt nước rơi

Như cách chúng ta đã quên không còn muốn đợi một người
Những buổi chiều dài
Ngân ngấn vầng trăng non cuối dốc
Để nhận thấy thằng đàn ông vẫn có quyền được khóc
Cho những xót xa...rồi câm lặng


More...

Thơ Tình Hà Văn Đạo.

By Hà Văn Đạo



Nhật ký nhớ một dòng sông tình yêu.

   Ngày ...
Em đến với anh con sông nước mùa đầy
Lác đác mưa rơi trổ rợp trời hoa Gạo
Đoản khúc đầu mùa chú Ve chưa kịp rạo
Tình yêu nghẹn ngào trao qua lá thư tay .    

 Ngày ...
Em buông tóc xõa cơn mê mười tám
Da mịn cổ tròn cho cơn khát hương bay
Anh ước mình có hàng vạn vòng tay
Ôm chọn hết những quảng sông em tắm .   

 
Ngày ...
Nụ hôn đầu nụ hôn run say đắm
Sông lặng im trăng lặn xuống không lời
Dáng em thả nước long lanh vời vợi
Dìu dập nơi bờ từng phút từng phút hóa đam mê .    

Ngày ...
Con sông bùng lên bởi quặn thắt tơ lòng
Em sặc sở theo chồng qua bến khác
Sông có cạn dần được tiếc đau đắng chát
Em váy cưới xòe anh đứng ngóng hương bay .





    Ký ức 
   
Từ ngày chia tay
Trong tôi là hồi hương những đêm dài day dứt
Là những bóng nhẵn nơi đuôi mắt lặn dần
Là sự giành giật của vô vàn nếp nhăn
Những nếp nhăn như sự giật mình thiếu nữ
Một lần vào nhau để vĩnh viễn ...đàn bà .   

 
"Thứ tha
Là đứa con rơi anh không để mắt bận lòng
 Chỉ là hoang thai em sinh ra từ nhân từ yếu ớt
Em đem đam mê hiến dâng cho thằng đàn ông
Ôm những giấc mơ hoang tàng với bộ mặt ngạo nghễ
Muốn làm thi sỹ dăm câu thơ dở chừng "
Đó là điều em ném vào mặt tôi sau bao ngày say đắm
           
Tôi biết tôi không phải loại đàn ông vồ vập theo đuôi đàn bà
 
Với những lời giải thích èo uột vứt đi
Mà chỉ có những đêm trắng vục mặt vào cà phê khói thuốc
Chừng mắt đuổi theo thân phận tha hương
Chập choạng sau lưng là mảnh đất quê
 Nơi tôi và em đã rụng rốn chôn nhau
Nơi tôi đã hồng hộc vác cái tình yêu nguyên thể tặng em

Bây giờ em đi
Vẫn nhiều hơn nếp nhăn thức trắng
Sự mùi mẫn của tình yêu em theo khói thuốc nhòe dần
Nghĩ suy những cuộc tình vồ vập những chia tay hờ hững
Cũng nhòe dần
Chỉ có Mùi thối nhau thai tôi vẫn ngấm sâu trên đất quê rộng hoác



Với em
      
Tôi gửi cho em
 
Mớ bòng bong cùng vụn vặt đời thường
 
Ly cafe cóc dĩa cơm bụi chiếc bánh cay dọc đường
 
Chúng mình đến với nhau
Từ những cánh đồng tuổi thơ lời ru chiều bếp khói
Từ những hạt nếp đầu mùa em dấu trong túi cói
Ăn chắt vội vàng trong những lúc giải lao

Thời gian
 
Là trò chơi không trở lại bao giờ
Bao ngày trôi qua sao nhớ nỗi ?
Hôm nay
Anh về làng lòng trống chải chơi vơi
Vẫn vẹn nguyên con tim quê diệu vợi
Chỉ riêng em đi ra ngoài tầm với
Anh tập đánh bóng tim mình mà vẫn khát quê hương .      

Đã từng ngồi trên líp cỏ đêm sương
Xưa ấm nồng sao bây giờ lạnh buốt
Con đường làng giờ trở thành côi cút
Anh về ngồi ôm ngọn gió mồ côi .

More...