Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với thơ cá

altalt    Nhà thơ Giang Nam:

                  Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với thơ ca.

                 Ở tuổi 82 nhưng nhà thơ Giang Nam – Tác giả của bài thơ nổi tiếng “Quê hương” vẫn tối ngày “luyện” trí minh mẫn cho mình bằng cách đánh vật với chữ nghĩa những hội thảo những trang hồi ký viết dở và…tập dưỡng sinh. Với ông cách rèn luyện này đã cho cuộc sống thường ngày thư thái hơn. Quen ông đã lâu nhưng biết ông bận vào một chiều cuối  tháng 4  tôi chỉ xin ông một cuộc thoại ngắn xung quanh bài thơ “Quê hương”. Thế nhưng ký ức một thời như sống dậy mãnh liệt cùng với niềm đam mê thơ như đã ăn sâu vào máu thịt khiến cho những lời “gan ruột” của ông cứ thế tuôn ra suốt 4 tiếng đồng hồ trong căn nhà riêng của ông ở số 46 Yesin (Nha Trang Khánh Hòa).

                  “Quê hương”- Bài thơ làm trong một giờ.

alt

Giang Nam với Chim Trắng Hoài Vũ Nguyễn Quang Sáng ở chiến trường Tây Ninh (1973)

                “Hồi đó tôi giác ngộ cách mạng rất sớm từ năm 20 tuổi lại được người anh trai – Nhà cách mạng Nguyễn Lưu truyền cho bầu nhiệt huyết nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- Nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – Người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ “Quê hương”. Thời khắc nghiệt của chiến tranh tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi nên chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn gửi cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ cuối cùng cũng nhận được hồi âm…Từ đó họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955). Cưới xong ở với nhau được đúng 2 đêm ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng” “diệt cộng” cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ ngay sau khi vợ sinh tôi được tổ chức rút về lại Khánh Hoà. Sau đó không lâu vào một buổi tối giữa năm 1960 giữa lúc trời mưa tầm tã tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Sài Gòn). Đau đớn đến bàng hoàng sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ tình yêu nghẹn ngào những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa nhức nhối tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ tôi đã viết xong bài thơ “Quê hương”. Viết liền mạch không tẩy xóa không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ “Quê hương”.

 

               Tạo cảm hứng cho một đời.

                  alt

               Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua rất lâu.  Nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh  từ phía sau cặp kính cận khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài “Quê hương” tôi đưa cho cấp trên đọc ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày  tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9/1961 đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ “Quê hương” của mình và thông báo được giải nhì báo Văn Nghệ. Trong giây phút vui mừng đó tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài “Quê hương” đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng làm báo tuyên truyền cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả”. – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Hà Nôin nhận giải Giang Nam đau đáu trong mình một suy nghĩ; Phải chăng những tình cảm tha thiết chân thành xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải nhà thơ Chế Lan Viên  đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao  đều nói về sự hy sinh của người con gái của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng bài “Quê hương” của Giang Nam đau quá!. Tuy bài thơ được giải nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ “Quên hương” được công bố rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó tôi vô cùng sung sướng thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê viết không ngưng nghỉ”- Giang Nam cho biết.

             Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962 bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu năm 1968 vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả về nhờ sự bào chữa của một luật sư. Nhắc đến thời kỳ này giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù ra tội những ngày dài sống đằng đẵng trong sà lim đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi vợ tôi đã chùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. “tận khổ cam lai” may thay giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh.  Lần ra tù thứ hai cũng nhờ nhiều vào một người luật sự họ bào chữa một cách vô tư. Sau này giải phóng tôi có đi tìm lại người đó để cảm ơn nhưng không gặp được”. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1976 theo điều động của tổ chức Giang Nam làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978 chấp hành ý kiến của cấp trên ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN 1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên Khánh Hoà) Tỉnh uỷ Khánh Hoà xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh- Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đáu đáu với quê hương với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình được phục vụ nhân dân lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ “Quê hương” nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.
Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết”. Vì cái đam mê viết nên hiện nay dù tuổi đã cao ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

                                                                HÀ VĂN ĐẠO.

 

         alt    Nhà thơ Giang Nam tên thật Nguyễn Sung sinh năm 1929 tại Ninh Hòa (Khánh Hòa). Các tác phẩm tiêu biểu như: Tháng Tám ngày mai (1962)  Quê hương (1965) Người anh hùng Đồng Tháp (1969) Vầng sáng phía chân trời (thơ NXB Văn học Giải phóng thành phố Hồ Chí Minh 1975) Hạnh phúc từ nay (thơ NXB Tác phẩm mới Hà Nội 1978) Thành phố chưa dừng chân (thơ NXB Tác phẩm mới Hà Nội 1985) Rút từ sổ tay chiến tranh (truyện ngắn và ký NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh 1987) trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết…Trải qua mấy chục năm hoạt động cách mạng và thơ ca ông được trao một số giải thưởng cao quý như; Giải ba về truyện ngắn của báo Thống Nhất năm 1960 Giải nhì về thơ tạp chí Văn Nghệ năm 1961 Giải thưởng Nhà nước về văn học nghề thuật…và nhiều giải thưởng huân huy chương cao quý khác.

 

 

 

thao

Kính gửi anh Hà Văn Đạo

Cám ơn anh nhờ bài nầy TT biết thêm một số chi tiết quý báu về nhà thơ Giang Nam.

Chúc sức khỏe.

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'9491','uoitg6uc0oso9ohpe6p8g0ev13','0','Guest','0','54.167.243.214','2018-08-20 00:52:21','/a296253/co-ve-noi-cuoi-troi-van-dau-dau-voi-tho-ca.html')